Tổng hợp điểm mới Luật Đầu tư 2020

Tổng hợp các điểm mới của Luật đầu tư 2020
Luật Đầu tư 2014 được ban hành nằm 2014, sau 06 năm có hiệu lực thì đến năm 2020 Quốc Hội Việt Nam đã thông qua Luật Đầu Tư mới, sẽ có hiệu lực vào ngày 1 tháng 1 năm 2021 (LĐT 2020) và thay thế Luật Đầu Tư 2014 (LĐT 2014). So với luật hiện hành, Luật đầu tư năm 2020 có rất nhiều điểm mới được sửa đổi, bổ sung theo hướng tạo thuận lợi và khuyến khích doanh nghiệp (DN) trong và ngoài nước đầu tư vào các lĩnh vực kinh tế, xã hội. LĐT 2020 đã góp phần tháo gỡ vưỡng mắc rất lớn hiện này về các dự án đầu tư trong nước và nước ngoài trên lãnh thổ Việt Nam. Đặc biệt, Luật Đầu tư năm 2020 đã giảm số lượng ngành nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện, đồng thời bổ sung nhiều ngành nghề ưu đãi đầu tư, hình thức ưu đãi đầu tư và thêm nhiều đối tượng được hưởng ưu đãi đầu tư… Trong bài viết này, tôi sẽ nêu và phân tích những điểm mới đáng lưu ý trong đạo luật này.
Đối tượng áp dụng
Luật Đầu tư 2020 bổ sung thêm đối tượng áp dụng là cơ quan liên quan đến hoạt động đầu tư kinh doanh, cụ thể: “Luật này áp dụng đối với nhà đầu tư và cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan đến hoạt động đầu tư kinh doanh”.
Bổ sung một số định nghĩa mới
So với Luật Đầu tư 2014, Luật Đầu tư 2014 bổ sung một số định nghĩa mới như: chấp thuận chủ trương đầu tư, cơ sở dữ liệu quốc gia về đầu tư, dự án đầu tư khởi nghiệp sáng tạo, điều kiện đầu tư kinh doanh, điều kiện tiếp cận thị trường đối với nhà đầu tư nước ngoài, hoạt động đầu tư ra nước ngoài. Ngoài ra, Vốn đầu tư được LĐT 2020 định nghĩa cụ thể hơn so với LĐT 2014, cụ thể “Vốn đầu tư là tiền và các tài sản khác theo quy định của pháp luật về dân sự và điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên để thực hiện hoạt động đầu tư kinh doanh”.
Quy định bổ sung chính sách về đầu tư kinh doanh
Hoạt động đầu tư kinh doanh gây phương hại đến quốc phòng, an ninh quốc gia của nhà đầu tư sẽ bị đình chỉ, ngừng, chấm dứt dù nhà đâu tư trực tiếp đầu tư hoặc mua vốn góp, cổ phần trong doanh nghiệp đang hoạt động tại Việt Nam. LĐT 2020 không quy định rõ ràng nếu một nhà đầu tư không có lỗi trong việc gây ra những thiệt hại cho quốc phòng, hoặc an ninh quốc gia, thì liệu nhà đầu tư có được đền bù cho việc bị bắt buộc đình chỉ hoặc chấm dứt đối với hoạt động đầu tư và kinh doanh hợp pháp của họ hay không. Đây là một câu hỏi hợp lý cho nhiều nhà đầu tư khi xét bối cảnh tranh chấp lãnh thổ giữa Việt Nam và Trung Quốc tại Biển Đông. Luật Dầu Khí đã quy định nếu hoạt động dầu khí bị hạn chế bởi những lý do liên quan đến quốc phòng, hoặc an ninh quốc gia, thì Chính Phủ của Việt Nam sẽ bồi thường những thiệt hại cho nhà đầu tư từ những hạn chế đó.
Chính thức cấm kinh doanh dịch vụ đòi nợ (điều 6)
Trong LĐT 2020 đã quy định ngành nghề “Kinh doanh dịch vụ đòi nợ” được đưa vào danh mục ngành nghề cấm đầu tư kinh doanh và bị loại khỏi Danh mục ngành nghề kinh doanh có điều kiện. Theo điều khoản chuyển tiếp của LĐT 2020, giao dịch cung cấp dịch vụ đòi nợ trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành (01/01/2021) chấm dứt hiệu lực kể từ ngày Luật này có hiệu lực và các bên tham gia giao dịch được thực hiện các hoạt động để thanh lý giao dịch đòi nợ theo quy định của pháp luật về dân sự và pháp luật có liên quan.
Ngoài ra, LĐT 2020 còn bổ sung thêm các ngành nghề “Mua bán xác người, bào thai người’, “kinh doanh pháo nổ” vào danh mục ngành nghề cấm đầu tư kinh doanh.
Cắt giảm một số ngành nghề kinh doanh có điều kiện
Danh mục ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện hiện nay được áp dụng theo quy định tại Luật sửa đổi, bổ sung Điều 6 và Phụ lục 4 về Danh mục ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện của Luật đầu tư 2014, bao gồm 243 ngành, nghề. Tuy nhiên, từ ngày 01/01/2021 thì số lượng này sẽ được giảm xuống còn 227 ngành nghề theo Danh mục ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện ban hành kèm theo Luật Đầu tư 2020. Đây là một nội dung mới rất quan trọng thu hút sự quan tâm của giới Doanh nhân, góp phần xóa bỏ rào cản trong hoạt động kinh doanh; bảo đảm quyền tự do kinh doanh của người dân, doanh nghiệp trong những ngành, nghề mà luật không cấm. Một số ngành nghề được bãi bỏ khỏi Danh mục ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện hiện như: Kinh doanh dịch vụ xét nghiệm HIV; Kinh doanh dịch vụ hỗ trợ sinh sản, lưu giữ tinh trùng, lưu giữ phôi; Kinh doanh dịch vụ xét nghiệm vi sinh vật gây bệnh truyền nhiễm; Kinh doanh dịch vụ tiêm chủng; Kinh doanh dịch vụ điều trị nghiện chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế; Kinh doanh dịch vụ phẫu thuật thẩm mỹ.
Hình thức và đối tượng áp dụng ưu đãi đầu tư (Khoản 1 Điều 15 Luật đầu tư 2020)
Đây là một trong những nội dung mà Chính phủ tập trung sửa đổi Luật lần này. Trong giai đoạn hiện này, có các biến động lên trên thế giới, đặc biệt là sự dịch chuyển của các dòng vốn đầu tư, chiến tranh thương mại Trung – Mỹ, sự ảnh hưởng của đại dịch Covid nên đã tạo nên một xu thế là dịch chuyển các dòng vốn từ Trung Quốc, các nước Phương Tây,… sang các nước Đông Nam Á. Điều này đã tạo ra sự cạnh tranh giữa các nước trong khu vực để thu hút đầu tư nước ngoài. Và một công cụ để thu hút đầu tư nước ngoài chính là ưu đãi đầu tư.
Về vấn đề ưu đãi, hỗ trợ đầu tư, Điều 15 Luật Đầu tư năm 2020 có bổ sung thêm một hình thức ưu đãi đầu tư, ngoài các hình thức: Ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp (áp dụng mức thuế suất TNDN thấp hơn mức thuế suất thông thường, miễn thuế, giảm thuế và các ưu đãi khác); miễn thuế nhập khẩu hàng hóa; miễn, giảm tiền sử dụng đất, tiền thuê đất, thuế sử dụng đất thì LĐT mới đã bổ sung thêm hình thức “Khấu hao nhanh, tăng mức chi phí được trừ khi tính thu nhập chịu thuế”.
Luật Đầu tư 2020 đã mở rộng đối tượng hưởng ưu đãi đầu tư, từ 05 nhóm thành 07 nhóm đối tượng, điều chỉnh, bổ sung thêm một số đối tượng trong từng nhóm.
Về đối tượng được hưởng ưu đãi đầu tư, LĐT 2020 bổ sung một số dự án như: Dự án sử dụng lao động là người khuyết tật; Đầu tư kinh doanh chuối phân phối sản phảm của doanh nghiệp nhỏ và vừa; Dự án đầu tư khởi nghiệp sáng tạo, trung tâm đổi mới sáng tạo,… Ưu đãi đầu tư được áp dụng có thời hạn, trên cơ sở kết quả thực hiện dự án của nhà đầu tư. Dự án đầu tư đáp ứng điều kiện hưởng các mức ưu đãi đầu tư khác nhau thì được áp dụng mực ưu đãi đầu tư cao nhất.
Ngoài ra, LĐT 2020 cho phép Chính phủ quyết định áp dụng mức ưu đãi, hỗ trợ đầu tư đặc biệt nhằm khuyến khích phát triển một số dự án đầu tư có tác động lớn đến kinh tế - xã hội như:
Đối tượng áp dụng
Luật Đầu tư 2020 bổ sung thêm đối tượng áp dụng là cơ quan liên quan đến hoạt động đầu tư kinh doanh, cụ thể: “Luật này áp dụng đối với nhà đầu tư và cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan đến hoạt động đầu tư kinh doanh”.
Bổ sung một số định nghĩa mới
So với Luật Đầu tư 2014, Luật Đầu tư 2014 bổ sung một số định nghĩa mới như: chấp thuận chủ trương đầu tư, cơ sở dữ liệu quốc gia về đầu tư, dự án đầu tư khởi nghiệp sáng tạo, điều kiện đầu tư kinh doanh, điều kiện tiếp cận thị trường đối với nhà đầu tư nước ngoài, hoạt động đầu tư ra nước ngoài. Ngoài ra, Vốn đầu tư được LĐT 2020 định nghĩa cụ thể hơn so với LĐT 2014, cụ thể “Vốn đầu tư là tiền và các tài sản khác theo quy định của pháp luật về dân sự và điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên để thực hiện hoạt động đầu tư kinh doanh”.
Quy định bổ sung chính sách về đầu tư kinh doanh
Hoạt động đầu tư kinh doanh gây phương hại đến quốc phòng, an ninh quốc gia của nhà đầu tư sẽ bị đình chỉ, ngừng, chấm dứt dù nhà đâu tư trực tiếp đầu tư hoặc mua vốn góp, cổ phần trong doanh nghiệp đang hoạt động tại Việt Nam. LĐT 2020 không quy định rõ ràng nếu một nhà đầu tư không có lỗi trong việc gây ra những thiệt hại cho quốc phòng, hoặc an ninh quốc gia, thì liệu nhà đầu tư có được đền bù cho việc bị bắt buộc đình chỉ hoặc chấm dứt đối với hoạt động đầu tư và kinh doanh hợp pháp của họ hay không. Đây là một câu hỏi hợp lý cho nhiều nhà đầu tư khi xét bối cảnh tranh chấp lãnh thổ giữa Việt Nam và Trung Quốc tại Biển Đông. Luật Dầu Khí đã quy định nếu hoạt động dầu khí bị hạn chế bởi những lý do liên quan đến quốc phòng, hoặc an ninh quốc gia, thì Chính Phủ của Việt Nam sẽ bồi thường những thiệt hại cho nhà đầu tư từ những hạn chế đó.
Chính thức cấm kinh doanh dịch vụ đòi nợ (điều 6)
Trong LĐT 2020 đã quy định ngành nghề “Kinh doanh dịch vụ đòi nợ” được đưa vào danh mục ngành nghề cấm đầu tư kinh doanh và bị loại khỏi Danh mục ngành nghề kinh doanh có điều kiện. Theo điều khoản chuyển tiếp của LĐT 2020, giao dịch cung cấp dịch vụ đòi nợ trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành (01/01/2021) chấm dứt hiệu lực kể từ ngày Luật này có hiệu lực và các bên tham gia giao dịch được thực hiện các hoạt động để thanh lý giao dịch đòi nợ theo quy định của pháp luật về dân sự và pháp luật có liên quan.
Ngoài ra, LĐT 2020 còn bổ sung thêm các ngành nghề “Mua bán xác người, bào thai người’, “kinh doanh pháo nổ” vào danh mục ngành nghề cấm đầu tư kinh doanh.
Cắt giảm một số ngành nghề kinh doanh có điều kiện
Danh mục ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện hiện nay được áp dụng theo quy định tại Luật sửa đổi, bổ sung Điều 6 và Phụ lục 4 về Danh mục ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện của Luật đầu tư 2014, bao gồm 243 ngành, nghề. Tuy nhiên, từ ngày 01/01/2021 thì số lượng này sẽ được giảm xuống còn 227 ngành nghề theo Danh mục ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện ban hành kèm theo Luật Đầu tư 2020. Đây là một nội dung mới rất quan trọng thu hút sự quan tâm của giới Doanh nhân, góp phần xóa bỏ rào cản trong hoạt động kinh doanh; bảo đảm quyền tự do kinh doanh của người dân, doanh nghiệp trong những ngành, nghề mà luật không cấm. Một số ngành nghề được bãi bỏ khỏi Danh mục ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện hiện như: Kinh doanh dịch vụ xét nghiệm HIV; Kinh doanh dịch vụ hỗ trợ sinh sản, lưu giữ tinh trùng, lưu giữ phôi; Kinh doanh dịch vụ xét nghiệm vi sinh vật gây bệnh truyền nhiễm; Kinh doanh dịch vụ tiêm chủng; Kinh doanh dịch vụ điều trị nghiện chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế; Kinh doanh dịch vụ phẫu thuật thẩm mỹ.
Hình thức và đối tượng áp dụng ưu đãi đầu tư (Khoản 1 Điều 15 Luật đầu tư 2020)
Đây là một trong những nội dung mà Chính phủ tập trung sửa đổi Luật lần này. Trong giai đoạn hiện này, có các biến động lên trên thế giới, đặc biệt là sự dịch chuyển của các dòng vốn đầu tư, chiến tranh thương mại Trung – Mỹ, sự ảnh hưởng của đại dịch Covid nên đã tạo nên một xu thế là dịch chuyển các dòng vốn từ Trung Quốc, các nước Phương Tây,… sang các nước Đông Nam Á. Điều này đã tạo ra sự cạnh tranh giữa các nước trong khu vực để thu hút đầu tư nước ngoài. Và một công cụ để thu hút đầu tư nước ngoài chính là ưu đãi đầu tư.
Về vấn đề ưu đãi, hỗ trợ đầu tư, Điều 15 Luật Đầu tư năm 2020 có bổ sung thêm một hình thức ưu đãi đầu tư, ngoài các hình thức: Ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp (áp dụng mức thuế suất TNDN thấp hơn mức thuế suất thông thường, miễn thuế, giảm thuế và các ưu đãi khác); miễn thuế nhập khẩu hàng hóa; miễn, giảm tiền sử dụng đất, tiền thuê đất, thuế sử dụng đất thì LĐT mới đã bổ sung thêm hình thức “Khấu hao nhanh, tăng mức chi phí được trừ khi tính thu nhập chịu thuế”.
Luật Đầu tư 2020 đã mở rộng đối tượng hưởng ưu đãi đầu tư, từ 05 nhóm thành 07 nhóm đối tượng, điều chỉnh, bổ sung thêm một số đối tượng trong từng nhóm.
Về đối tượng được hưởng ưu đãi đầu tư, LĐT 2020 bổ sung một số dự án như: Dự án sử dụng lao động là người khuyết tật; Đầu tư kinh doanh chuối phân phối sản phảm của doanh nghiệp nhỏ và vừa; Dự án đầu tư khởi nghiệp sáng tạo, trung tâm đổi mới sáng tạo,… Ưu đãi đầu tư được áp dụng có thời hạn, trên cơ sở kết quả thực hiện dự án của nhà đầu tư. Dự án đầu tư đáp ứng điều kiện hưởng các mức ưu đãi đầu tư khác nhau thì được áp dụng mực ưu đãi đầu tư cao nhất.
Ngoài ra, LĐT 2020 cho phép Chính phủ quyết định áp dụng mức ưu đãi, hỗ trợ đầu tư đặc biệt nhằm khuyến khích phát triển một số dự án đầu tư có tác động lớn đến kinh tế - xã hội như:
- Dự án đầu tư thành lập mới hoặc mở rộng các trung tâm nghiên cứu và phát triển (R&D), trung tâm đổi mới sáng tạo có tổng vốn đầu tư từ 6.000 tỷ đồng trở lên, trung tâm đổi mới sáng tạo quốc gia được thành lập theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ.
- Dự án đầu tư thuộc ngành, nghề đặc biệt ưu đãi đầu tư có quy mô vốn đầu tư từ 30.000 tỷ đồng trở lên, thực hiện giải ngân tối thiểu 10.000 tỷ đồng trong thời hạn 03 năm.
- Các dự án đầu tư khác có tác động lớn đến kinh tế - xã hội theo quyết định của thủ tướng Chính phủ.
- Thời hạn và mức áp dụng ưu đãi đầu tư đặc biệt không vượt quá 50% mức ưu đãi cao nhất theo quy định của pháp luật.
Sẽ ban hành Danh mục ngành, nghề hạn chế tiếp cận thị trường đối với Nhà đầu tư nước ngoài (Điều 9)
Lần đầu tiên, LĐT 2020 phân biệt (1) các điều kiện tiếp cận thị trường áp dụng cho nhà đầu tư nước ngoài hoặc Nhà Đầu Tư Được Coi Như Nhà Đầu Tư Nước Ngoài (được định nghĩa dưới đây), và (2) điều kiện đầu tư được áp dụng đối với tất cả các nhà đầu tư. Đối với những điều kiện tiếp cận thị trường, theo LĐT 2020, nhà đầu tư nước ngoài có quyền được hưởng các điều kiện tiếp cận thị trường tương tự như các điều kiện được áp dụng đối với nhà đầu tư trong nước ngoại trừ một số lĩnh vực có điều kiện tiếp cận thị trường được ban hành bởi Chính Phủ (Danh Mục Hạn Chế Tiếp Cận Thị Trường). “Danh mục hạn chế” này là một trong những thay đổi đáng khích lệ trong LĐT 2020 và tương tự với hướng tiếp cận đã được Việt Nam đưa ra khi kí kết Hiệp Định CPTPP vào năm 2018. Tuy nhiên, vấn đề được đặt ra là danh mục hạn chế theo LĐT 2020 sẽ được Chính Phủ ban hành khi nào và như thế nào.
Điều kiện tiếp cận thì trường đối với nhà đầu tư nước ngoài quy định tại Danh mục ngành, nghề hạn chế tiếp cận thị trường đối với nhà đầu tư nước ngoài gồm: (i) Điều kiện về tỷ lệ vốn sở hữu vốn điều lệ của nhà đầu tư nước ngoài trong tổ chức kinh tế; (ii) Điều kiện về hình thức đầu tư; (iii) Điều kiện về phạm vi hoạt động đầu tư; (iv) Điều kiện về năng lực của nhà đầu tư; đối tác tham gia thực hiện hoạt động đầu tư; (v) Điều kiện khác theo quy định tại các luật, nghị quyết Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, nghị định và điều ước quốc tế.
Điểm mới về tỷ lệ nắm giữ vốn điều lệ của NĐT nước ngoài trong tổ chức kinh tế thực hiện hoạt động đầu tư (Điều 23)
Một tổ chức kinh tế Việt Nam (TCKT Việt Nam) phải đáp ứng những điều kiện đầu tư và tuân thủ thủ tục đầu tư áp dụng cho nhà đầu tư nước ngoài (TCKT Việt Nam như vậy được gọi là Nhà Đầu Tư Được Coi Như Nhà Đầu Tư Nước Ngoài) khi tham gia thành lập một TCKT Việt Nam khác, thâu tóm quyền sở hữu trong một TCKT Việt Nam hiện hữu hoặc đầu tư dưới hình thức hợp đồng hợp tác kinh doanh, nếu trên 50% vốn điều lệ của TCKT Việt Nam nêu trên được nắm giữ, bởi:
Lần đầu tiên, LĐT 2020 phân biệt (1) các điều kiện tiếp cận thị trường áp dụng cho nhà đầu tư nước ngoài hoặc Nhà Đầu Tư Được Coi Như Nhà Đầu Tư Nước Ngoài (được định nghĩa dưới đây), và (2) điều kiện đầu tư được áp dụng đối với tất cả các nhà đầu tư. Đối với những điều kiện tiếp cận thị trường, theo LĐT 2020, nhà đầu tư nước ngoài có quyền được hưởng các điều kiện tiếp cận thị trường tương tự như các điều kiện được áp dụng đối với nhà đầu tư trong nước ngoại trừ một số lĩnh vực có điều kiện tiếp cận thị trường được ban hành bởi Chính Phủ (Danh Mục Hạn Chế Tiếp Cận Thị Trường). “Danh mục hạn chế” này là một trong những thay đổi đáng khích lệ trong LĐT 2020 và tương tự với hướng tiếp cận đã được Việt Nam đưa ra khi kí kết Hiệp Định CPTPP vào năm 2018. Tuy nhiên, vấn đề được đặt ra là danh mục hạn chế theo LĐT 2020 sẽ được Chính Phủ ban hành khi nào và như thế nào.
Điều kiện tiếp cận thì trường đối với nhà đầu tư nước ngoài quy định tại Danh mục ngành, nghề hạn chế tiếp cận thị trường đối với nhà đầu tư nước ngoài gồm: (i) Điều kiện về tỷ lệ vốn sở hữu vốn điều lệ của nhà đầu tư nước ngoài trong tổ chức kinh tế; (ii) Điều kiện về hình thức đầu tư; (iii) Điều kiện về phạm vi hoạt động đầu tư; (iv) Điều kiện về năng lực của nhà đầu tư; đối tác tham gia thực hiện hoạt động đầu tư; (v) Điều kiện khác theo quy định tại các luật, nghị quyết Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, nghị định và điều ước quốc tế.
Điểm mới về tỷ lệ nắm giữ vốn điều lệ của NĐT nước ngoài trong tổ chức kinh tế thực hiện hoạt động đầu tư (Điều 23)
Một tổ chức kinh tế Việt Nam (TCKT Việt Nam) phải đáp ứng những điều kiện đầu tư và tuân thủ thủ tục đầu tư áp dụng cho nhà đầu tư nước ngoài (TCKT Việt Nam như vậy được gọi là Nhà Đầu Tư Được Coi Như Nhà Đầu Tư Nước Ngoài) khi tham gia thành lập một TCKT Việt Nam khác, thâu tóm quyền sở hữu trong một TCKT Việt Nam hiện hữu hoặc đầu tư dưới hình thức hợp đồng hợp tác kinh doanh, nếu trên 50% vốn điều lệ của TCKT Việt Nam nêu trên được nắm giữ, bởi:
- Có nhà đầu tư nước ngoài (trong trường hợp này, TCKT Việt Nam được xem là một Doanh Nghiệp Có Vốn Đầu Tư Nước Ngoài Nắm Giữ Trên 50% Vốn Điều Lệ) (hiện hành quy định từ 51% vốn điều lệ trở lên)
- Doanh Nghiệp Có Vốn Đầu Tư Nước Ngoài Nắm Giữ Trên 50% Vốn Điều Lệ (Hiện hành quy định là từ 51% vốn điều lệ trở lên); hoặc
- Nhà đầu tư nước ngoài và Doanh Nghiệp Có Vốn Đầu Tư Nước Ngoài Nắm Giữ Trên 50% Vốn Điều Lệ (hiện hành quy định từ 51% vốn điều lệ trở lên).
Ngưỡng sở hữu nước ngoài của Nhà Đầu Tư Được Coi Như Nhà Đầu Tư Nước Ngoài giảm từ 51% vốn điều lệ theo LĐT 2014 xuống trên 50% vốn điều lệ. Do đó, đối với Nhà Đầu Tư Được Coi Như Nhà Đầu Tư Nước Ngoài trong đó nhà đầu tư nước ngoài nắm giữ cổ phần có quyền kiểm soát (trên 50%) nhưng ít hơn 51% theo LĐT 2014, thì những vấn đề sau đây cần được làm rõ:
- liệu những khoản đầu tư của Nhà Đầu Tư Được Coi Như Nhà Đầu Tư Nước Ngoài theo LĐT 2020 (a) có thể tiếp tục được coi là khoản đầu tư của nhà đầu tư Việt Nam (như quy định của LĐT 2014) không hay (b) bắt buộc phải đáp ứng điều kiện áp dụng cho nhà đầu tư nước ngoài khi xét sự thay đổi tư cách pháp lý của TCKT Việt Nam từ nhà đầu tư trong nước thành Nhà Đầu Tư Được Coi Như Nhà Đầu Tư Nước Ngoài theo LĐT 2020; và
- trong trường hợp (b), không rõ những thủ tục nào mà Nhà Đầu Tư Được Coi Như Nhà Đầu Tư Nước Ngoài buộc phải tuân thủ.
Góp vốn, mua cổ phần, mua cổ phần vốn góp của nhà đầu tư nước ngoài (Điều 24 đến Điều 26 LĐT 2020)
- Về điều kiện góp vốn, mua cổ phần, mua cổ phần vốn góp: việc góp vốn, mua cổ phần phần vốn góp của nhà đầu tư nước ngoài phải đáp ứng các điều kiện: (i) Điều kiện tiếp cận thị trường đối với nhà đầu tư nước ngoài; (ii) Quy định về đảm bảo quốc phòng an ninh; (iii) Quy định của pháp luật đất đai về điều kiện nhạn quyền sử dụng đất, điều kiện sử dụng đất tại đảo, xã, phường, thị trấn biên giới, ven biển. Đây mà điểm mà tôi cho rằng khi thực hiện trên thực tế sẽ gây ra một số vướng mắc, bởi vì việc thông kê các danh mục về địa điểm liên quan đến quốc phòng an ninh là rất khó khăn. Hiện tại, cũng chưa có văn bản pháp luật liên quan quy định cụ thể về vấn đề này, cho nên nhà đầu tư nước ngoài sẽ không nắm rõ được liệu rằng mình có vi phạm các điều kiện trên hay không.
- Về thủ tục đầu tư theo hình thức góp vốn, mua cổ phần, mua cổ phần vốn góp:
- Nhà đầu tư góp vốn, mua cổ phần, mua phần vốn góp vào tổ chức kinh tế phải đáp ứng các điều kiện và thực hiện thủ tục thay đổi thành viên, cổ đông theo quy định của pháp luật tương ứng với loại hình tổ chức kinh tế.
- Điều kiện, tỷ lệ sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài và thủ tục mua, bán cổ phần, mua phần vốn góp, kinh doanh chứng khoán của tổ chức kinh doanh chứng khoán, quỹ đầu tư, công ty đầu tư chứng khoán, công ty niêm yết, đăng ký giao dịch, công ty đại chúng thực hiện theo quy định của pháp luật về chứng khoán. Trường hợp pháp luật về chứng khoán không quy định về thủ tục, điều kiện, tỷ lệ sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài thì thực hiện theo quy định của pháp luật về đầu tư.
- Ngoài ra, nhà đầu tư nước ngoài thực hiện thủ tục đăng ký vốn góp, mua cổ phần, mua phần vốn góp vào tổ chức kinh tế trước khi thay đổi thành viên, cổ đông.
Hình Thức Hỗ Trợ Của Chính Phủ Có Thể Hạn Chế Hơn Đối Với Các Dự Án Lớn
Đối với các dự án cơ sở hạ tầng lớn, LĐT 2020 không còn bao hàm những điều khoản rõ ràng về khả năng của Chính Phủ có thể đưa ra bảo lãnh thực hiện nghĩa vụ của các Doanh Nghiệp Nhà Nước hoặc đưa ra bảo lãnh về đảm bảo đáp ứng nhu cầu ngoại hối. Những dự án được thực hiện theo Luật Đầu Tư Theo Phương Thức Đối Tác Công Tư 2020 (Luật PPP 2020) được hưởng những bảo đảm hạn chế về việc đáp ứng nhu cầu ngoại hối theo quy định của luật này. Dự án được thực hiện theo LĐT 2020 phải phụ thuộc và khả năng “Bảo đảm của Nhà Nước” theo Điều 11, LĐT 2020, hoặc những hình thức hỗ trợ đầu tư theo Điều 18, LĐT 2020, những hình thức này, về lí thuyết mà nói, có thể bao gồm tất cả những hình thức bảo đảm và hỗ trợ được quy định tại Luật PPP 2020. Tuy nhiên, suy luận một cách lô ghích, những dự án không phải dự án PPP theo LĐT 2020 có thể phải hưởng những hình thức hỗ trợ và bảo lãnh chính phủ hạn chế hơn so với những dự án là đối tượng của Luật PPP 2020.
Lựa Chọn Nhà Đầu tư thực hiện dự án
LĐT 2020 cung cấp những quy định về việc lựa chọn các nhà đầu tư đối với một dự án trong trường hợp (i) đầu giá quyền sử dụng đất theo quy định của luật đất đai, (ii) đấu thầu để lựa chọn nhà đầu tư theo quy định của luật đấu thầu (iii) Chấp thuận nhà đầu tư, chủ trương đầu tư theo Luật Đầu tư. Thủ tục lựa chọn nhà đầu tư theo LĐT 2020 rõ ràng hơn, tuy nhiên phức tạp hơn thủ tục được quy định tại Nghị Định 118/2015 hướng dẫn thi hành LĐT 2014. Cụ thể:
Theo Nghị Định 118/2015, nhà đầu tư trúng đấu giá quyền sử dụng đất hoặc trúng đấu thầu dự án đầu tư sử dụng đất không phải thực hiện thủ tục xin chấp thuận chủ trương đầu tư. Tuy nhiên, LĐT 2014 và Nghị Định 118/2015 không quy định rõ bằng cách nào mà đề xuất đầu tư có liên quan đã được chuẩn bị và thẩm định trước khi việc đấu giá và đầu thầu được tổ chức;
LĐT 2020 làm rõ những vấn đề mơ hồ của LĐT 2014 và Nghị Định 118/2015 bằng việc quy định:
Đối với các dự án cơ sở hạ tầng lớn, LĐT 2020 không còn bao hàm những điều khoản rõ ràng về khả năng của Chính Phủ có thể đưa ra bảo lãnh thực hiện nghĩa vụ của các Doanh Nghiệp Nhà Nước hoặc đưa ra bảo lãnh về đảm bảo đáp ứng nhu cầu ngoại hối. Những dự án được thực hiện theo Luật Đầu Tư Theo Phương Thức Đối Tác Công Tư 2020 (Luật PPP 2020) được hưởng những bảo đảm hạn chế về việc đáp ứng nhu cầu ngoại hối theo quy định của luật này. Dự án được thực hiện theo LĐT 2020 phải phụ thuộc và khả năng “Bảo đảm của Nhà Nước” theo Điều 11, LĐT 2020, hoặc những hình thức hỗ trợ đầu tư theo Điều 18, LĐT 2020, những hình thức này, về lí thuyết mà nói, có thể bao gồm tất cả những hình thức bảo đảm và hỗ trợ được quy định tại Luật PPP 2020. Tuy nhiên, suy luận một cách lô ghích, những dự án không phải dự án PPP theo LĐT 2020 có thể phải hưởng những hình thức hỗ trợ và bảo lãnh chính phủ hạn chế hơn so với những dự án là đối tượng của Luật PPP 2020.
Lựa Chọn Nhà Đầu tư thực hiện dự án
LĐT 2020 cung cấp những quy định về việc lựa chọn các nhà đầu tư đối với một dự án trong trường hợp (i) đầu giá quyền sử dụng đất theo quy định của luật đất đai, (ii) đấu thầu để lựa chọn nhà đầu tư theo quy định của luật đấu thầu (iii) Chấp thuận nhà đầu tư, chủ trương đầu tư theo Luật Đầu tư. Thủ tục lựa chọn nhà đầu tư theo LĐT 2020 rõ ràng hơn, tuy nhiên phức tạp hơn thủ tục được quy định tại Nghị Định 118/2015 hướng dẫn thi hành LĐT 2014. Cụ thể:
Theo Nghị Định 118/2015, nhà đầu tư trúng đấu giá quyền sử dụng đất hoặc trúng đấu thầu dự án đầu tư sử dụng đất không phải thực hiện thủ tục xin chấp thuận chủ trương đầu tư. Tuy nhiên, LĐT 2014 và Nghị Định 118/2015 không quy định rõ bằng cách nào mà đề xuất đầu tư có liên quan đã được chuẩn bị và thẩm định trước khi việc đấu giá và đầu thầu được tổ chức;
LĐT 2020 làm rõ những vấn đề mơ hồ của LĐT 2014 và Nghị Định 118/2015 bằng việc quy định:
- Việc lựa chọn nhà đầu tư thông qua đấu giá quyền sử dụng đất hoặc đấu thầu dự án đầu tư sẽ được thực hiện sau khi được cấp chấp thuận chủ trương đầu tư (trừ các trường hợp không phải xin chấp thuận chủ trương đầu tư); và
- Cơ quan nhà nước có thẩm quyền được quyền đề xuất một dự án đầu tư và xin chấp thuận chủ trương đầu tư là một điểm mới trong LĐT 2020 (Điều 33.2, LĐT 2020).
Thẩm quyền chấp thuận chủ trương đầu tư
- Đối với thẩm quyền chấp thuận chủ trương đầu tư của Thủ tướng Chính phủ, LĐT 2020 đã có những thay đổi sau:
- Sửa đổi thẩm quyền chấp thuận chủ trương đầu tư của Thủ tướng chính phủ trong một số lĩnh vực:
- Sửa đổi theo hướng thu hẹp phạm vi chấp thuận chủ trương đối với cảng hàng không, cảng biển.
- Đối với Dự án của nhà đầu tư nước ngoài, LĐT 2020 bỏ các lĩnh vực “kinh doanh vận tải biển”, và bỏ “thành lập tổ chức khoa học và công nghệ, doanh nghiệp khoa học và công nghệ 100% vốn nước ngoài.
- Sửa đổi thẩm quyền trong lĩnh vực dầu khí, cá cược, đầu tư khu chức năng trong khu công nghiệp
- Bổ sung thẩm quyền phê duyệt chủ trương đầu tư của Thủ tướng Chính phủ trong các lĩnh vực sau:
- Dự án đầu tư xây dựng nhà ở, khu đô thị (trong các trường hợp quy mô cụ thể);
- Dự án đầu tư đồng thời thuộc thẩm quyền chấp thuận chủ trương đầu tư của từ 02 Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trở lên.
- Thu hẹp phạm vi dự án phải trình Thủ tướng Chính phủ theo hướng loại bỏ:
- Sản xuất thuốc lá điều;
- Xây dựng và kinh doanh gôn (golf)
- Dự án không thuộc trường hợp quy định tại Khoản 1 Điều 31 có quy mô vốn đầu tư từ 5.000 tỷ đồng trở lên
- Thẩm quyền chấp thuận chủ trương đầu tư của UBND cấp tỉnh (Điều 32 LĐT 2020)
- Sửa đổi thẩm quyền chấp thuận chủ trương đầu tư của UBND cấp tỉnh trong một số lĩnh vực, cụ thể:
“Dự án được nhà đầu tư giao đất, cho thuê đất không thông qua đấu giá, đấu thầu hoặc nhận chuyển nhượng; dự án có yêu cầu chuyển mục đích sử dụng đất’’ thành “Dự án đầu tư có đề nghị Nhà nước giao đất, cho thuê đất không thông qua đấu giá, đấu thầu thầu hoặc nhận chuyển nhượng, dự án đầu tư có đề nghị cho phép chuyển mục đích sử dụng đất,
- Bổ sung thẩm quyền của UBND tỉnh đối với các dự án:
- Dự án đầu tư xây dựng nhà ở, khu đô thị (ngoài các trường hợp thuộc thẩm quyền của Thủ tướng Chính Phủ)
- Dự án đầu tư xây dựng và kinh doanh sân gôn (goft);
- Dự án đầu tư xây dựng của nhà đầu tư nước ngoài, tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài thực hiện tại đảo và xã, phường, thị trấn biên giới; xã, phường, thị trấn ven biển; khu vực khác có ảnh hưởng đến quốc phòng, an ninh.
- Bỏ quy định UBND tỉnh quyết định chủ trương đầu tư đối với “Dự án có sử dụng công nghệ thuộc Danh mục công nghệ hạn chế chuyển giao theo quy định của pháp luật về chuyển giao theo quy định của pháp luật về chuyển giao công nghệ”.
Những trường hợp không phải bảo đảm thực hiện dự án đầu tư
LĐT 2020 đã bổ sung biện pháp “bảo lãnh ngân hàng” về nghĩa vụ ký quỹ để đảm bảo thực hiện dự án. Nhà đầu tư có nghĩa vụ ký quỹ và họ có thể yêu cầu ngân hàng bảo lãnh cho nghĩa vụ của mình. Trong trường hợp nhà đâu tư có vi phạm dẫn đến việc thu hồi ký quỹ, thì ngân hàng sẽ có tránh nhiệm thanh toán theo yêu cầu của cơ quan quản lý Nhà nước. Đây là điểm mới nhằm giải quyết được nhu cầu quản lý nhà nước và cũng giúp Nhà đầu tư giảm chi phí đầu tư.
các trường hợp không phải thực hiện biện pháp bảo đảm, gồm:
LĐT 2020 đã bổ sung biện pháp “bảo lãnh ngân hàng” về nghĩa vụ ký quỹ để đảm bảo thực hiện dự án. Nhà đầu tư có nghĩa vụ ký quỹ và họ có thể yêu cầu ngân hàng bảo lãnh cho nghĩa vụ của mình. Trong trường hợp nhà đâu tư có vi phạm dẫn đến việc thu hồi ký quỹ, thì ngân hàng sẽ có tránh nhiệm thanh toán theo yêu cầu của cơ quan quản lý Nhà nước. Đây là điểm mới nhằm giải quyết được nhu cầu quản lý nhà nước và cũng giúp Nhà đầu tư giảm chi phí đầu tư.
các trường hợp không phải thực hiện biện pháp bảo đảm, gồm:
- Nhà đầu tư trúng giá quyền sử dụng đất để thực hiện dự án đầu tư được Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất, cho thuê đất thu tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê;
- Nhà đầu tư trúng đấu thầu thực hiện dự án đầu tư có sử dụng đất;
- Nhà đầu tư được Nhà nước giao đất, cho thuê đất trên cơ sở nhận chuyền nhượng dự án đầu tư đã thực hiện ký quỹ hoặc đã hoàn thành việc góp vốn, huy động vốn theo tiến độ quy định tại văn bản chấp thuận chủ trương đầu tư, Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư;
- Nhà đầu tư được Nhà nước giao đất, cho thuê đất để thực hiện dự án đầu tư trên cơ sở nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất của người sử dụng đất khác.’’
Những trường hợp không gia hạn hoặc chấm dứt hoạt động của dự án đầu tư
- LĐT 2020 bổ sung quy định không gia hạn thực hiện dự án đầu tư đối với các dự án sử dụng công nghệ lạc hậu, tiềm ẩn nguy cơ gây ô nhiễm môi trường, thâm dụng tài nguyên và dự án có điều kiện chuyển giao không bồi hoàn.
- Bổ sung quy định về chấm dứt hoạt động của dự án đầu tư trong trường hợp: dự án đầu tư thuộc trường hợp bị thu hồi đất do không sử dụng đất liên tục hoặc thu hồi đất do tiến độ sử dụng chậm theo quy định của pháp luật về đất đai; Nhà đầu tư không ký quỹ hoặc không có bảo lãnh nghĩa vụ ký quỹ theo quy định của pháp luật dối với dự án đầu tư thuộc diện ký quỹ bảo đảm thực hiện dự án đầu tư; Nhà đầu tư thực hiện hoạt động đầu tư trên cơ sở giao dịch dân sự giả tạo theo quy định của pháp luật về dân sự.
- Ngoài ra, nhà đầu tư bị đình chỉ, ngừng, chấm dứt hoạt động đầu tư kinh doanh nếu hoạt động gây phương hại đến quốc phòng, an ninh quốc gia.
Bổ sung quy định ngành nghề cấm đầu tư và đầu tư ra nước ngoài có điều kiện
- LĐT 2020 quy định ngành nghề, cấm đầu tư ra nước ngoài bao gồm: (i) Ngành, nghề quy định tại Điều 6 LĐT 2020 và các điều ước quốc tế có liên quan quy định khác; (ii) Ngành, nghề có công nghệ, sản phẩm thuộc đối tượng cấm xuất khẩu theo quy định của pháp luật về quản lý ngoại thương; (iii) Ngành, nghề khác theo quy định của pháp luật nước tiếp nhận đầu tư.
- Ngành, nghề đầu tư ra nước ngoài có điều kiện, gồm: Ngân hàng; Bảo hiểm; Chứng khoán; Báo chí, phát thanh, truyền hình; Kinh doanh bất động sản…
Những trường hợp nhà đầu tư không phải thực hiện thủ tục chấp thuận chủ trương đầu tư
Theo điều khoản chuyển tiếp của LĐT 2020, nhà đầu tư không phải thực hiện thủ tục chấp thuận chủ trương đầu tư theo quy định tại Luật này đối với các dự án đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền chấp thuận hoặc cho phép thực hiện một trong các trường hợp sau:
Theo điều khoản chuyển tiếp của LĐT 2020, nhà đầu tư không phải thực hiện thủ tục chấp thuận chủ trương đầu tư theo quy định tại Luật này đối với các dự án đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền chấp thuận hoặc cho phép thực hiện một trong các trường hợp sau:
- Nhà đầu tư được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định chủ trương đầu tư, chấp thuận chủ trương đầu tư hoặc chấp thuận đầu tư theo quy định của pháp luật về nhà ở, đô thị và xây dựng trước ngày 01/01/2021.
- Nhà đầu tư đã thực hiện dự án đầu tư không thuộc diện chấp thuận chủ trương đầu tư, quyết định chủ trương đầu tư, cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư theo pháp luật quy định về đầu tư, nhà ở, xây dựng, đô thị trước ngày 01/01/2021.
- Dự án được cấp Giấy chứng nhận ưu đãi đầu tư, Giấy phép đầu tư, Giấy chứng nhận đầu tư, Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư trước ngày 01/01/2021.
Nhiều ngoại lệ hơn đối với quy định giới hạn thời gian 24 tháng để giãn tiến độ thực hiện dự án
LĐT 2020 đã loại bỏ điều khoản liên quan đến giãn tiến độ thực hiện dự án của LĐT 2014. Thay vào đó, LĐT 2020 cho phép nhà đầu tư có thể được điều chỉnh tiến độ thực hiện không quá 24 tháng trừ một số trường hợp sau đây (những trường hợp gia hạn trên 24 tháng được cho phép):
LĐT 2020 đã loại bỏ điều khoản liên quan đến giãn tiến độ thực hiện dự án của LĐT 2014. Thay vào đó, LĐT 2020 cho phép nhà đầu tư có thể được điều chỉnh tiến độ thực hiện không quá 24 tháng trừ một số trường hợp sau đây (những trường hợp gia hạn trên 24 tháng được cho phép):
- Nhà Nước chậm bàn giao đất;
- Theo yêu cầu của cơ quan Nhà Nước;
- Cơ quan Nhà Nước chậm thực hiện thủ tục hành chính;
- Do cơ quan Nhà Nước thay đổi quy hoạch;
- Do thay đổi mục tiêu đã được quy định tại văn bản chấp thuận chủ trương đầu tư;
- Bổ sung mục tiêu thuộc diện chấp thuận chủ trương đầu tư; và
- Tăng tổng vốn đầu tư từ 20% trở lên làm thay đổi quy mô dự án đầu tư.
LĐT 2014 cho phép nhà đầu tư đăng ký thay đổi tiến độ dự án đầu tư mà không giới hạn thời gian cụ thể. Tuy nhiên, trên thực tế, nhiều cơ quan cấp phép không cho phép thực hiện bất cứ điều chỉnh nào dài hơn 24 tháng trừ trường hợp bất khả kháng.
Trên đây là những điểm mới cơ bản của LĐT 2020, Luật Đầu tư mới ra đời đã xóa bỏ được những hạn chế, bất cập và rất nhiều các quy định mới liên quan đến đầu tư, thể hiện được ý chí, nguyện vọng của đại đa số các nhà đầu tư trong và ngoài nước góp phần giúp doanh nghiệp Việt Nam phát triển mạnh mẽ và bền vững. Điểm mới của LĐT 2020 hướng tới tạo lập môi trường đầu tư kinh doanh thuận lợi, bình đẳng, an toàn cho người dân và Doanh nghiệp; đồng thời tăng cường hiệu lực, hiệu quả trong quản lý nhà nước đối với hoạt động đầu tư kinh doanh.
Trên đây là những điểm mới cơ bản của LĐT 2020, Luật Đầu tư mới ra đời đã xóa bỏ được những hạn chế, bất cập và rất nhiều các quy định mới liên quan đến đầu tư, thể hiện được ý chí, nguyện vọng của đại đa số các nhà đầu tư trong và ngoài nước góp phần giúp doanh nghiệp Việt Nam phát triển mạnh mẽ và bền vững. Điểm mới của LĐT 2020 hướng tới tạo lập môi trường đầu tư kinh doanh thuận lợi, bình đẳng, an toàn cho người dân và Doanh nghiệp; đồng thời tăng cường hiệu lực, hiệu quả trong quản lý nhà nước đối với hoạt động đầu tư kinh doanh.

